Thương mại lễ hội
Cập nhật lúc 10-02-2012 13:25:09 (GMT+1)
| Một cảnh chen lấn xô đẩy để mua Ấn tại đền Trần (Nam Định). Nguồn: viet-studies.info |
Mùa xuân là mùa của lễ hội. Lễ hội đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống, sinh hoạt văn hoá, tâm linh của mỗi người dân Việt Nam,đồng thời cũng là dịp để được hoà mình vào những nghi lễ đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, những năm gần đây, không ít các lễ hội bị thương mại hóa, làm vẩn đục môi trường văn hóa truyền thống này…
Nét sinh hoạt văn hoá cộng đồng
Theo thống kê của Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch, mỗi năm Việt Nam tổ chức khoảng 8.000 lễ hội lớn nhỏ, trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa. Trong đó, lễ hội lịch sử cách mạng chiếm 4%, lễ hội tôn giáo chiếm 16%, lễ hội dân gian truyền thống chiếm tới 80%. Như vậy, trung bình mỗi ngày nước ta có 22 lễ hội. Chỉ trong tháng Giêng, lên tới 100 lễ hội mỗi ngày. Chẳng thế mà người ta mới có câu “Tháng Giêng là tháng ăn chơi…”.
Từ bao đời nay, lễ hội mùa xuân đã trở thành hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, mang tính tâm linh và có ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Nhìn chung, các lễ hội đều gắn với các di tích lịch sử văn hóa. Phương thức tổ chức và nội dung các lễ hội có sự kết hợp giữa lễ và hội, đan xen giữa tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng… Ý nghĩa phần lễ trong các lễ hội mùa xuân không chỉ thuần túy mang yếu tố tín ngưỡng mà còn là hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần mang đậm nét đạo lý, truyền thống tôn kính tổ tiên, “uống nước nhớ nguồn”, tưởng nhớ công lao của các vị anh hùng có công xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước, những bậc tiền nhân đã truyền nghề mang lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân.
Đến lễ hội có đông đảo quần chúng nhân dân, không phân biệt lứa tuổi với tâm nguyện tốt lành và hướng thiện. Sau một năm bận rộn với những lo toan, tham gia trẩy hội ngày xuân, khách hành hương có dịp giải tỏa những lo âu, phiền muộn của cuộc sống thường nhật, được thư giãn với những trò chơi lành mạnh, được tham quan, hiểu biết về các di tích lịch sử. Các lễ hội truyền thống đầu xuân với sức sống mãnh liệt vốn có ăn sâu vào tiềm thức, trở thành nhu cầu không thể thiếu của nhân dân.
Ngay trong tháng Giêng đã có rất nhiều lễ hội tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc, những người có công chống giặc ngoại xâm như: Hội Đống Đa, kỷ niệm chiến thắng của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ vào ngày 5/1; Hội đền An Dương Vương (Cổ Loa, Hà Nội) ngày 6/1 tưởng niệm Thục Phán người có công dựng nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa; Hội đền Cửa Suốt (Quảng Ninh) tưởng niệm Trần Quốc Toản có công đánh đuổi giặc Nguyên; Hội đền Hạ Lôi (Mê Linh) tưởng niệm Hai Bà Trưng, hội "Cơm hòm" ở Phổ Yên, Thái Nguyên ngày 6 tháng Giêng kỷ niệm người đàn bà vô danh thời Hậu Lê có công bày mưu đánh giặc Minh...
Cũng vào thời điểm này, du khách thập phương lại được về hội Hoa Vị Khê (Nam Định) để chiêm ngưỡng hoa, cây cảnh của làng nghề truyền thống Vị Khê, hội du xuân lễ bái cầu mong một năm mới thịnh vượng ở núi Bà Đen (Tây Ninh). Đến Hòa Bình để được xem hội Chơi hang, hội Xên bản, Xên mường của người Thái; lên Sơn La cùng thả hồn vào những cánh rừng ban trắng trong ngày hội hoa ban, đi chơi núi lên Bắc Kạn, du thuyền độc mộc trên thắng cảnh hồ Ba Bể. Ngoài ra, người Tày, Nùng Tây Bắc còn có hội Lồng Tồng, người Dao có hội Tết Nhảy, người Mông có hội Sắc bùa, hội chơi núi chơi xuân, người Khơ me Nam Bộ có hội mừng năm Mới. Đặc biệt vào mùa này, du khách đổ lên núi Yên Tử dự lễ hội chùa, vãn cảnh hùng vĩ của đất nước và bày tỏ lòng thành...
Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng. Tất cả lễ hội đều diễn ra sôi động, là cầu nối quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hiểu được công lao tổ tiên để tự hào về truyền thống quê hương, đất nước.
Hiện nay, ngoài các lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội dân gian, lễ hội du nhập từ nước ngoài, còn có một loại hình lễ hội lịch sử cách mạng ra đời sau 1945. Do nhu cầu của nhân dân và yêu cầu của thực tiễn, các lễ hội, festival, ngày hội vùng – miền, tộc người, ngành nghề,… hình thành và được các cấp Đảng, chính quyền quan tâm đầu tư tổ chức. Gần đây, Ngày hội các dân tộc vùng Tây Bắc, vùng Tây Nguyên; Ngày hội dân tộc Chăm, dân tộc Thái, Lễ hội chè, trái cây, cà phê… ra đời đã đáp ứng phần nào nhu cầu đời sống tinh thần của con người đương đại.
Đi trẩy hội là một nhu cầu cần thiết của con người Việt, vì đến lễ hội, con người ta được tập hợp, giao lưu, được thi đấu và thể hiện bản làng mình, thôn ấp, phum sóc mình với cộng đồng. Về với lễ hội, con người như được trở về nguồn cội thiêng liêng, sống lại sự liên kết sức mạnh cộng đồng, trở về với môi trường ngôn ngữ và sinh hoạt văn hóa dân gian đậm nét truyền thống.
Vì thế, lễ hội là một nét sinh hoạt văn hoá cộng đồng không thể thiếu trong đời sống của người dân Việt Nam, và sự phong phú của lễ hội cũng chính là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Xu hướng đáng lo ngại
Cùng với sự phát triển kinh tế, số người đến các lễ hội ngày càng đông, cùng với đó là hàng loạt những vấn đề nổi cộm nảy sinh và tồn tại trong nhiều năm qua như việc các lễ hội chạy theo tính thương mại, biểu hiện ở việc bắt chẹt du khách, bao thầu lễ hội, các trò chơi không lành mạnh, lãng phí khi đốt vàng mã…, và nhiều lễ hội đã trở nên nhấn mạnh các yếu tố mê tín dị đoan thay vì phát huy những giá trị truyền thống văn hóa của lịch sử. Sự biến tướng đó khiến dư luận bức xúc, những kẻ “buôn thần bán thánh”, trục lợi từ lễ hội... đã làm cho mục đích, tính văn hóa, vẻ đẹp vốn có của lễ hội bị biến dạng.
Ngay từ đầu năm 2011, trước tình trạng tổ chức lễ hội xuất hiện những biểu hiện tiêu cực, phản cảm, Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện số 162/CÐ-TTg gửi các Bộ và các đơn vị liên quan, yêu cầu các "Cơ quan, đơn vị chủ trì tổ chức lễ hội phải chịu trách nhiệm về nội dung chương trình, công tác tổ chức, quy mô, cấp độ của lễ hội... Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch cùng UBND các tỉnh, thành tăng cường công tác kiểm tra và xử lý nghiêm những sai phạm trong lĩnh vực tổ chức và quản lý lễ hội, ngăn chặn các biểu hiện mê tín dị đoan, đốt đồ mã, đặt hòm công đức, đặt lễ, đặt "tiền giọt dầu" tùy tiện, lưu hành văn hóa phẩm trái phép, nâng giá, ép giá dịch vụ...
Không phủ nhận ý nghĩa tích cực của lễ hội trong việc làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng và góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, nhưng tính thương mại đang lấn át lễ hội một cách nghiêm trọng, chưa kể lạm dụng tâm linh để kiếm tiền.
Thương mại hóa lễ hội có thể hiểu rộng hơn, bao gồm tất cả những hoạt động kinh doanh tại các lễ hội, các danh lam, thắng cảnh. Đơn cử như tại hội Lim, một lễ hội truyền thống đậm chất văn hóa Kinh Bắc, từ lâu đã trở thành niềm tự hào của người dân Bắc Ninh, được tổ chức vào ngày 13 tháng Giêng, câu chuyện thương mại hóa đã bị du khách than phiền quá nhiều. Đi dự hội, khách mong được nghe các liền anh, liền chị hát ngay tại cái nôi sinh ra quan họ. Thế nhưng, không gian ấy lại đậm đặc những hoạt động vui chơi có thưởng (mà thực chất là cờ bạc đỏ đen). Còn việc giao duyên với các liền anh, liền chị cũng mang nặng màu sắc của… cát-xê. Cho nên gần đây, hội Lim đang dần vãn khách, bởi du khách đang có xu hướng tìm về nghe quan họ trong các làng chứ không lên hội nữa.
Ngay cả lễ hội chùa Hương – một lễ hội nổi tiếng khu vực phía Bắc, cũng đang được khai thác theo kiểu tận thu. Trong khi từ đầu tháng 1/2012, giá vé tham quan di tích chùa Hương được tăng từ 30.000 đồng lên 50.000 đồng, tức là tăng đột ngột tới 20.000 đồng/người chỉ sau một mùa lễ hội thì các dịch vụ đi kèm như phí thuê đò, giá vé cáp treo đều tăng theo...
Tính thương mại hóa được thể hiện rõ nét ở các lễ hội, đền, chùa chính là đấu thầu những dịch vụ để kinh doanh: trông giữ xe, hàng ăn, lễ vật… và tự đẩy giá lên cao để kiếm lời khiến ban tổ chức không thể kiểm soát được giá cả. Sự “chặt chém” vô tội vạ của những chủ nhà hàng kinh doanh tại các lễ hội khiến người tham dự giật mình. Mặc dù giá cả cao ngất ngưởng, nhưng không ai dám khẳng định về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, khi hầu hết các quán ăn, nhà hàng bán thực phẩm ăn ngay ở các lễ hội không đáp ứng các quy định của ngành y tế.
Một thực trạng cũng được nhắc đến nhiều, đó là việc người dân đã thi nhau đổ tiền của để mua sắm lễ, đốt vàng mã tại các đền, chùa miếu mạo. Rồi việc người dân thi nhau rải tiền lẻ khắp các ban bệ, tượng Phật, thậm chí ném cả xuống ao hồ, giếng trong di tích. Do việc khan hiếm tiền lẻ năm nào cũng có, nên các lễ hội được dịp kinh doanh bằng cách đổi tiền chẵn lấy tiền lẻ với mức chênh lệch 10 ăn 8, thậm chí 10 ăn 6…
Có lẽ do tâm lý thực dụng, trần sao âm vậy đã tràn vào lễ hội, đình chùa. Người ta rải tiền vào chốn linh thiêng như “hối lộ” thánh thần, cầu xin tiền tài lộc lá sỗ sàng, đã vắng đi nhiều những ước nguyện chân tâm thầm kín. Những lễ vật đơn giản như miếng trầu, quả cau bị che khuất bởi những xấp đôla, những thỏi vàng lấp lánh khắp các ban, bệ trong đền chùa. Bên cạnh đó, nhiều lễ hội bị biến tướng thành những festival, liên hoan, chỉ chú trọng hội hè mà quên đi phần lễ.
Chợ Viềng (Nam Định) nổi tiếng với nét đặc sắc là mua bán chủ yếu để cầu may, nên hàng bán thường là đồ cũ. Thế nhưng, những năm gần đây, do có đông người đến chợ Viềng, nên người ta đã làm giả đồ thành cũ để bán. Chợ họp chủ yếu vào ban đêm, nhếnh nhoáng ánh đèn, không có con mắt nhà nghề, mấy ai phân biệt được. Không chỉ thế, những “sòng bài” công khai núp bóng những trò vui chơi có thưởng cũng nhan nhản…
Riêng việc đặt hòm công đức tại các đền chùa, Bộ VH-TT&DL cũng đã có văn bản chấn chỉnh với yêu cầu mỗi đền, chùa chỉ có một hòm công đức. Song, văn bản là một chuyện, còn việc thực hiện lại là... chuyện khác! Nhiều lễ hội thu được hàng chục tỉ đồng từ tiền công đức mỗi mùa hội, nhưng hầu như nguồn thu chi này rất khó kiểm soát khi mỗi nơi áp dụng một cách quản lý khác nhau: nơi thì do Ban quản lý di tích, nơi thì thuộc Sở VH-TT&DL, nhiều nơi lại do thủ nhang, thủ đền quản lý. Đây chính là nguyên nhân "đẻ" ra các hình thức biến tướng nhằm thu tiền của khách hành hương.
Trước đây, dư luận đã từng lo ngại hiện tượng tượng giả, chùa giả, “gia đình hóa” di tích. Cũng vì coi lễ hội, di tích là "của riêng", dù đó là Di tích Quốc gia, những người quản lý tự cho mình quyền sửa sang di tích, rồi mua sắm đồ thờ tự, xây dựng trái phép, làm biến dạng di tích, như đền Bà Chúa Kho, chùa Tiêu (Bắc Ninh), đền Trần, lăng mẫu Chúa Liễu Hạnh (Nam Định)… khiến dư luận lo ngại về tính nguyên trạng của di tích.
Riêng ở khu vực đền Bà Chúa Kho, năm nào cũng xảy ra tình trạng ùn tắc, chen chúc do người dân kéo về “vay” lộc. Người ta cho rằng, muốn có một năm làm ăn trúng quả thì phải đến vay mượn vốn liếng của Bà. Lễ càng to càng thắng đậm, nên ai cũng cố sắm mâm lễ tới cả triệu đồng, có người hàng chục triệu đồng.
Theo GS Trần Lâm Biền, một nhà nghiên cứu về lễ hội và văn hóa dân gian, ngày xưa lễ hội tổ chức là để hòa nhập và tạo sức mạnh cộng đồng, còn bây giờ người dân đến lễ hội, đình chùa chỉ là để cầu xin cho chính mình. Thậm chí còn có tư tưởng mâm cao cỗ đầy, lễ lạt nặng quả thì được lộc nhiều, theo kiểu “tốt lễ dễ kêu”. Thật buồn khi một bộ phận không nhỏ du khách đến lễ hội nặng về tư tưởng cầu xin thần thánh, thái quá về niềm tin tín ngưỡng, thần linh với mong muốn cầu lộc, tài, phúc, danh lợi, mà không hiểu được mục đích thanh cao của lễ hội là biết ơn các bậc tiền nhân, niềm tin chân – thiện – mỹ, dẫn đến việc dâng đồ lễ tốn kém, phức tạp.
Những vấn nạn nêu trên không hề mới ở các lễ hội, nhưng vẫn cứ lặp lại năm này qua năm khác, gây nhức nhối xã hội và chắc chắn, sẽ còn tiếp diễn trong các mùa lễ hội tiếp theo. Các cơ quan chức năng đều biết quá rõ, nhưng vẫn chưa có lời giải hữu hiệu cho bài toán này…

Đâu là giải pháp?
GS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã từng cảnh báo: “Đừng thương mại hóa các lễ hội”. Theo ông, chúng ta đang trong tình trạng “cả nước làm lễ hội” rất tốn kém, và cái lợi của lễ hội lại rơi vào các doanh nghiệp hơn là người dân… Mỗi năm cả nước có hàng ngàn hội hè lớn nhỏ, cấp quốc gia thì trên mươi tỷ, cấp địa phương vài tỷ, nhưng hiệu quả thu hút người dân và du khách vẫn là vấn đề cần đánh giá lại. Tiếc thay việc đánh giá đến nay vẫn còn để ngỏ (?)
Phải công nhận, nhiều lễ hội nổi tiếng như chùa Hương, Đền Trần, Bà Chúa Kho… mỗi năm luôn phải đón lượng du khách lớn hơn nhiều so với sức chịu đựng của cơ sở hạ tầng nơi đây. Chính vì lý do này khiến cho việc quản lý đôi khi trở thành bài toán nan giải đối với các ban quản lý khu di tích và các chính quyền các địa phương.
Ngày trước phần nhiều mỗi lễ hội đều mang tính địa phương, chủ yếu là hội làng, hội tổng, chứ ít người đi trảy hội xa, nên hội không quá đông đúc, phức tạp, dễ tổ chức, hợp với khả năng quản lý của chính quyền địa phương, không quá sức như gần đây tại không ít lễ hội. Đây chính là điều các cấp chính quyền và các ngành chức năng cần suy nghĩ, cân nhắc trong sự trù liệu tổ chức lễ hội theo khả năng, ngăn ngừa, hạn chế những điều yếu kém, tiêu cực. Càng không nên đầu tư quá nhiều tiền ngân sách, vốn công quỹ vào việc tổ chức, sắm sửa, trang thiết bị cho lễ hội, nên để những khoản tiền đó đầu tư vào các hoạt động công ích cấp thiết hơn như giáo dục, y tế, xoá đói, giảm nghèo.
Một vấn đề gây khó khăn cho công tác quản lý của ngành văn hóa hiện nay là sự chồng chéo dẫn đến mâu thuẫn trong việc quản lý: trong khi Bộ VH-TT &DL cấm sản xuất và sử dụng đồ mã, thì Bộ Công Thương vẫn cho đó là một nghề, vì thế, việc sản xuất và vận chuyển đồ mã lại là không vi phạm. Bên cạnh đó, nhiều nhà quản lý văn hóa cũng bày tỏ sự lo ngại khi đang xuất hiện nhiều loại hình lễ cầu siêu khắp cả nước với quy mô lớn, đặc biệt là ở các nghĩa trang liệt sĩ. Do đó, rất cần có sự hướng dẫn để các buổi lễ mang đúng nghĩa, đúng tầm cỡ, thay vì khoán trắng cho tôn giáo như hiện nay. Việc quy hoạch lễ hội là cần thiết, để trả lễ hội của tôn giáo cho tôn giáo tổ chức, trả lễ hội của dân gian cho dân gian, Nhà nước không nên đứng ra tổ chức mà chỉ tạo điều kiện và giúp đỡ về quản lý trật tự xã hội, xử lý vi phạm.
Để có thể quản lý tốt hơn công tác tổ chức lễ hội, Thứ trưởng Bộ VH-TT&Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái cho rằng, phải có sự thống nhất trong quản lý sử dụng và sản xuất vàng mã và điều này, cần phải có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Tới đây, Nhà nước sẽ rút vai trò khỏi các lễ hội dân gian, để lễ hội dân gian do người dân đứng tổ chức, còn lễ hội truyền thống cách mạng do quan chức tham gia tổ chức. “Món nợ” đã nhiều năm của ngành văn hóa về mô hình quản lý di tích, tiền công đức, quy định lễ hội nào cấp quốc gia tỉnh, lễ hội nào cấp tỉnh… nay rất cần được sớm “thanh toán”, mới tránh được những thất thoát không đáng có, để trả lại nét đẹp văn hóa thực sự cho các lễ hội.
Còn theo ông Bùi Minh Tuấn, một giáo viên ở Nghệ An, để đảm bảo cho các lễ hội thực sự có ý nghĩa, cần ngăn chặn triệt để các hoạt động mê tín dị đoan, các tệ nạn cờ bạc biến tướng, chống mọi biểu hiện thương mại hóa lễ hội bằng việc đặt hòm công đức bừa bãi. Quản lý, theo dõi và không để làm phát sinh những khoản thu phí không hợp lý, trái quy định. Khâu tổ chức các lễ hội phải có kịch bản được dàn dựng, thống nhất kỹ lưỡng từ trước. Kết hợp hài hòa giữa phần lễ và phần hội, có sự kiểm duyệt của các cơ quan văn hóa có thẩm quyền. Theo đó, phần “lễ” phải thể hiện được tinh hoa, ý nghĩa, bản sắc, tạo được không khí thiêng liêng, trang trọng, loại bỏ các hủ tục phiền hà. Phần hội” cần có thêm nhiều trò chơi giải trí lành mạnh, các hoạt động văn hóa, thể thao mang tính giáo dục, thẩm mỹ cao. Cuối cùng, ban tổ chức các lễ hội cần xây dựng được các phương án bảo vệ, đảm bảo an ninh trật tự và giữ gìn vệ sinh môi trường, cảnh quan trong suốt thời gian lễ hội diễn ra. Tổ chức và quản lý tốt các lễ hội được tổ chức trên địa bàn cả nước là thiết thực bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa cổ truyền các dân tộc. Đó cũng là hoạt động có ý nghĩa trong công tác giáo dục truyền thống, giúp cho các thế hệ hôm nay và mai sau tự hào về quê hương, đất nước và luôn biết hướng về cội nguồn.
Câu chuyện làm sao để một lễ hội không bị thương mại hóa và giữ gìn được bản sắc truyền thống mà vẫn đón được nhiều khách tham quan, không phải là bất khả thi, vì ở Việt Nam, chúng ta đã từng có những mô hình, ví dụ như phố cổ Hội An, đã làm được điều này. Vấn đề là ở chỗ tư duy của những nhà quản lý cũng như sự nhận thức của người dân. Thêm nữa, một điều cần nhận thức rõ là các vị thánh thần là hiện thân tượng trưng cho các bậc tài đức, cao minh, việc ban tài, phát lộc, nếu có, cũng sẽ được các Ngài suy xét dựa trên tâm đức ở đời của mỗi người, không căn cứ vào vàng mã và các hủ tục lễ bái. Còn bất cứ ai có ý định trục lợi, sớm hay muộn cũng sẽ bị trừng phạt.
Mong rằng những mùa lễ hội tiếp theo sẽ có nhiều phần Lễ, phần Hội sẽ thắng thế được sự thương mại hóa đang có xu hướng ngày càng phát triển nhân danh lễ hội.
Thạch Hà
|
Nhìn ra lễ hội một số nước Không chỉ hấp dẫn bằng cách tổ chức các lễ hội đặc sắc và chuyên nghiệp, kinh nghiệm từ các nước cho thấy, việc “thương mại hóa” các giá trị truyền thống cũng là thực tế không thể phủ nhận. Có những lễ hội đã được quốc tế hóa, góp phần xây dựng thương hiệu du lịch và đưa hình ảnh quốc gia đó đi khắp nơi, như: lễ hội té nước trong dịp lễ Tết cổ truyền Songkran (Thái Lan) hay Chol Chnam Thmay (Campuchia). Không giống như những người dân có nguồn gốc Đông Á, người Nhật thường không tổ chức Tết âm lịch (nó được thay thế bằng Tết dương lịch vào cuối thế kỉ 19). Những lễ hội thường được tổ chức bài bản, trật tự với 1 hoặc 2 sự kiện chính, gồm các hoạt động ăn uống, giải trí và các trò chơi đầy màu sắc. Điều đặc biệt là thường không có một ngày chính thức cho những lễ hội trên toàn đất nước Nhật. Ngày tổ chức thay đổi từ vùng này sang vùng khác trên toàn đất nước và thậm chí ở một số khu vực nhất định giúp cho người dân đều cảm nhận rõ giá trị truyền thống của đất nước mình. Do nhịp sống tất bật của cuộc sống hiện đại, Hàn Quốc đã mất đi nhiều những ngày lễ hội truyền thống. Trước đây, lễ hội chỉ là thời gian cử hành những lễ nghi tôn giáo. Cho tới thời kỳ các vương quốc liên minh thì lễ tạ ơn Trời đã cho vụ mùa bội thu mới được chính thức tổ chức. Các lễ hội đó là yeonggo (múa trống gọi hồn) của Buyeo, dongmaeng (nghi lễ cúng tổ tiên) của Goguryeo, và mucheon (thiên vũ) của Dongye. Các lễ hội thường được tổ chức vào tháng 10 âm lịch, sau mỗi vụ mùa. Riêng lễ yeonggo được tổ chức vào tháng 12 âm lịch. Tuy nhiên, một số ít ngày lễ vẫn được kỷ niệm tưng bừng và giữ nguyên giá trị như lễ Seol - ngày đầu tiên của năm lịch âm (thường rơi vào cuối năm) và ngày lễ lớn khác trong năm là Daeboreum, ngày trăng tròn đầu tiên trong năm sau Năm mới. Đã hơn 1.000 năm rồi, ngôi chùa Shengshou nằm trên dãy núi Fulong ở tỉnh Triết Giang, miền Đông Trung Quốc là một chốn tôn nghiêm, nơi các vị sư có thể thoát khỏi những ham muốn phàm tục và dành toàn bộ tâm trí của mình vào những vấn đề tâm linh. Tuy nhiên, gần đây, sự phát triển bùng nổ của nền kinh tế Trung Quốc đang trở thành một con dao hai lưỡi đối với những trung tâm Phật giáo như Shengshou. Giới lãnh đạo Phật giáo ở Trung Quốc phàn nàn về việc một số nhà sư thiếu trung thực đã bỏ trốn cùng với thùng công đức của nhà chùa vào lúc nửa đêm và những người lừa đảo mặc áo nhà tu để đi khất thực. Chùa Shuanglin được xây dựng lần đầu gần Yiwu vào năm 520 trước công nguyên bởi các nhà sư đến từ Ấn Độ. Vào năm 1958, trong chương trình Đại nhảy vọt, người dân địa phương ở đây đã phá ngôi chùa này khi họ xây dựng một bể chứa nước tại khu vực chùa. Kế hoạch xây dựng lại chùa Shuanglin của Yiwu đã nhận được sự ủng hộ lớn và thu được khoản tài trợ lên tới 5,3 triệu USD từ các phật tử địa phương. Tuy nhiên, chính quyền địa phương ở Yiwu dường như quan tâm đến việc sử dụng ngôi chùa này để kiếm tiền hơn là xây dựng lại một nơi tín ngưỡng cho các phật tử. Nhiều người đang rất lo ngại trước việc chính quyền địa phương ở nhiều nơi ở Trung Quốc nhìn chung đang chú trọng nhiều đến việc kiếm tiền từ các ngôi chùa, thay vì thúc đẩy hoạt động mang giá trị tâm linh đích thực. HẢI THANH |
|
Loạn dịch vụ tại Hương Sơn Khi số lượng du khách đổ về trẩy hội chùa Hương tăng lên thì cũng là lúc các loại hình dịch vụ đua nhau nở rộ. Dù được coi là địa danh hàng đầu miền Bắc về lịch sử - văn hóa tín ngưỡng và Ban Tổ chức cũng đã hứa hẹn sẽ tập trung chỉ để mang lại kết quả tốt hơn các năm trước nhưng những ngày khai hội đầu năm tại Hương Sơn vẫn khiến không ít khách hành hương phải lắc đầu ngao ngán. Cùng với giá vé tham quan, đi đò, các loại hình dịch vụ tại khu vực suối Yến đều đã tăng so với mức giá thông thường. Một hình ảnh không đẹp mà chùa Hương có vẻ vẫn muốn “bảo tồn” chính là nạn cò khách. Như lường trước, và “dự đoán” gây áp lực tâm lý cho khách bằng câu “tìm phòng khó và đò hết” đám cò này luôn miệng tự giới thiệu sẽ có chỗ ăn ở với giá mềm cho du khách được yên tâm. Chỉ một đoạn đường không dài nhưng hành khách nhiều lần hoảng vía mỗi khi nước suối với rác rưởi dập dềnh sát mép đò do số lượng người vượt gần gấp đôi trọng tải cho phép, thỉnh thoảng do số lượng đò quá đông, lại “thử sức” va quệt vào nhau khiến khách ngồi đó không khỏi tái mặt. Tới chùa Hương không phải một lần, nhưng chắc hẳn nhiều người vẫn ái ngại với hàng trăm hàng quán, loa phóng thanh liên tục chào với các loại bánh kẹo, đồ ăn uống, cả những đồ chơi bạo lực được bày bán công khai như súng hơi, đao kiếm có xuất xứ từ Trung Quốc. Điều đáng nói, khu vực trước cổng chùa càng tệ hại hơn. Ở đây người ta dựng hẳn những căn lều theo bậc cấp để phục vụ ăn uống, nghỉ ngơi hết sức lộn xộn với nhiều chất thải gây ô uế. Đến hẹn lại lên, mỗi năm có hàng trăm ngàn du khách đổ về dự hội chùa Hương nhưng không biết đến bao giờ, lễ hội này mới không còn những dịch vụ ăn theo, biến tướng ảnh hưởng đến trật tự, mất mỹ quan nơi chốn linh thiêng? Người dân vẫn luôn mong rằng, đừng để chùa Hương trở thành “mùa lễ chợ” của những đối tượng thuần túy kinh doanh, làm mất đi ý nghĩa của lễ hội chùa Hương và đặc biệt là làm phiền lòng, mất niềm tin, trở thành nỗi lo cho du khách. AN BÌNH |
|
Ý kiến Nhiều địa phương vì mục tiêu tăng trưởng du lịch nên luôn cố gắng mở những lễ hội giới thiệu bản sắc dân tộc trong vùng miền của mình để kéo khách đến, thực tế cho thấy ngoài một số ít thành công như Quảng Nam, Đà Nẵng... còn hầu hết là gây hiệu ứng ngược: khách đến không chi tiêu gì, mất an ninh trật tự, cuộc sống cộng đồng bị xáo trộn. Tô văn Động,Chánh văn phòng Bộ VH-TT&DL Xã hội cần các nhà tổ chức sự kiện, và lễ hội có lẽ cũng cần bàn tay tổ chức chuyên nghiệp. Nhưng theo tôi, họ chỉ nên là các nhà cung ứng dịch vụ, thực hành ý tưởng của nhà quản lý và nhà nghiên cứu chứ không phải “khoán trọn gói” cho công ty tổ chức sự kiện như những sự kiện đơn thuần.TS Lê Thị minh Lý, Trung tâm Nghiên cứu và phát huy giá trị di sản văn hóa VN Công tác quản lý nhà nước đang chậm so với thực tế phát triển của lễ hội dẫn đến những bất cập tiêu cực nảy sinh. Với các vấn đề văn hoá, không thể sử dụng biện pháp hành chính mà biện pháp mang tính xây dựng. Biện pháp hành chính như thanh tra, kiểm tra, xử lý sai phạm phải đi sau biện pháp xây dựng. Ngô Hoài Chung, Cục phó Cục Văn hoá cơ sở, Bộ VH-TTDL Việc phục hồi, khuyếch trương lễ hội cũng có thể thỏa mãn “thành tích bảo tồn di sản văn hóa” nhưng thật sự đã làm mất sự độc đáo, đa dạng và nhất là làm biến dạng ý nghĩa đích thực của lễ hội khi những yếu tố thực dụng “hiện đại” xuất hiện trong cả phần lễ và phần hội. TS. Nguyễn Thị Hậu,Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM Tìm đến với đời sống tâm linh là để tìm nguồn ai ủi từ thế giới siêu nhiên. Bây giờ, người ta bỏ quên mục đích ban đầu để mưu cầu những quyền lợi không chính đáng. Thậm chí rất nhiều người, dù không có và không tin vào chuyện tâm linh, nhưng vẫn tìm đến, lợi dụng nó để trục lợi cho bản thân.Hồ Tấn Phan, Nhà nghiên cứu văn hoá Chai nước khoáng bình thường 5-6 nghìn đồng thì ở lễ hội được bán với giá 15, thậm chí 20 nghìn đồng. Riêng dịch vụ bán vàng, hương, đồ lễ tại các đền, chùa, nắm được tâm lý “đi lễ đầu năm” của khách hành hương nên người bán cứ thỏa sức hét giá cao gấp đôi, gấp ba, người mua tặc lưỡi chấp nhận vì chẳng nhẽ đi lễ lại đi tay không? Nguyễn Phương Nam,người dân |
Nguồn: TGVN
