Những nhạc sĩ khai sinh cho nền tân nhạc Việt Nam
Cập nhật lúc 24-06-2011 16:10:28 (GMT+1)
| Nhạc sĩ Lê Thương |
Tân nhạc hay Nhạc mới, Nhạc cải cách là một loại nhạc xuất hiện vào khoảng năm 1928. Bối cảnh ra đời của tân nhạc là Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong nghệ thuật văn học Việt Nam nói chung. Tân nhạc xuất hiện sau phong trào thơ mới và dòng văn học lãng mạn vài năm.
Giai đoạn trước 1937 được xem là giai đoạn chuẩn bị của Tân nhạc. Còn Phạm Duy cho rằng những năm đầu thập niên 1930 là "thời kỳ đi tìm nhạc ngữ mới".Trong mục câu chuyện âm nhạc tuần này Vietinfo muốn giới thiệu đến hai nhạc sĩ Lê Thương và Hoàng Quý, những người trong số nhạc sĩ đầu tiên khai sinh tân nhạc Việt Nam.
Nhạc sĩ Hoàng Quý
Hoàng Quý (1920 - 1946), nhạc sĩ tiền chiến nổi tiếng, là một trong những gương mặt tiên phong của tân nhạc Việt Nam. Ông là tác giả của nhạc phẩm Cô láng giềng bất hủ.
Hoàng Quý sinh năm 1920 tại Hải Phòng, ông là anh trai của Hoàng Phú, tức nhạc sĩ Tô Vũ. Theo Phạm Duy, Hoàng Quý từng là học trò của Lê Thương tại trường Trung học Lê Lợi ở Hải Phòng vào cuối thập niên 1930. Hoàng Quý theo học nữ giáo sư âm nhạc Leperète dạy nhạc ở các trường trung học ở Hải Phòng. Nhờ có năng khiếu và ham học, Hoàng Quý tiếp thu âm nhạc khá tốt, chỉ một thời gian sau trở thành giáo viên dạy nhạc của trường Bonnal.
Trước khi trở thành người soạn nhạc tiền đạo của xu hướng nhạc hùng, Hoàng Quý cũng đã đi vào lĩnh vực nhạc tình, với những bài nhạc tình yêu như Tú Uyên(bản nhạc này bị thất truyền), hay những bài nhạc tình quê như Chiều quê, Đêm trăng trên vịnh Hạ Long, Chùa Hương... mà nổi tiếng hơn cả là ca khúc bất hủ Cô láng giềng.
Cô láng giềng ra đời khoảng năm 1942-1943. Lúc đó Hoàng Quý rời Hải Phòng lên Sơn Tây để đến làm thư ký cho một trang trại nuôi bò. Chuyến ra đi đó ông đã phải chia tay với "bóng hồng" của mình. Khoảng 6 tháng sau, ông không làm việc ở Sơn Tây nữa và trước khi trở về Hải Phòng ông ghé thăm người em Hoàng Phú đang ở tại Hà Nội. Chính trong dịp này nhạc sĩ Hoàng Quý đã cho người em mình xem bài hát Cô láng giềng của ông.

Hôm nay trời xuân bao tươi thắm
Dừng gót phiêu linh về thăm nhà
Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi
Tôi đã hình dung nét ai đang cười
Tôi mơ trời xuân bao tươi thắm
Đôi mắt trong đen màu hạt huyền
Làn tóc mây chiều cùng gió ngàn dâng sóng
Xao xuyến nỗi niềm yêu...
Nhạc sĩ Tô Vũ kể lại: "Với Cô láng giềng, anh tôi chỉ sáng tác lời 1. Đó là những vần thơ đầy lạc quan, phấn khởi khi chia tay người yêu và hy vọng một ngày trở về gặp nhau trong vui mừng. Còn lời 2 là do tôi sáng tác thêm, đó là cảnh chàng trở về, ngày có một đám cưới làng quê tưng bừng rộn rã của chính người yêu, và chàng buồn tình lặng lẽ ra đi... Thật ra lời 2 này không phải là tâm tư của Hoàng Quý mà do tôi hư cấu và Hoàng Quý đã đồng ý, xem như là một tác phẩm nghệ thuật chứ không phải là sự miêu tả một mối tình có thật, vì thực tế Hoàng Quý không có một bi kịch về tình yêu như nội dung của lời 2"
Trước ngõ vào thôn vang tiếng pháo
Chân bước phân vân lòng ngập ngừng
Tai lắng nghe tiếng người nói cười xôn xao
Tôi biết người ta đón em tưng bừng...
Đành lòng nay tôi bước chân ra đi
Giơ tay buồn hái bông hồng tường vi
Ghi chút tình em nói chờ đợi tôi
Đừng nói tới phân ly.
Cô láng giềng ơi
Nay mối duyên thơ đành đã lỡ rồi
Chân bước xa xa dần miền quê
Ai biết cho bao giờ tôi về.
Nhạc sĩ Lê Thương
Tên thật Ngô đình Hộ, sinh ngày 08 tháng 01 năm 1914, tại phố Hàm Long Hà Nội, Theo học trường Nhân Bắc tại Hà Nội. Là một tu sĩ hoàn tục. Năm 1935 hành nghề dạy học. Ðược sinh trưởng trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc, nên Lê Thương yêu thích âm nhạc từ nhỏ và đã ca hát trong thời còn ở nhà trường. Sau khi đổi về dạy học tại Hải Phòng, Lê Thương cùng các nhạc sĩ Văn Cao, Hoàng Phú, Phạm Ngữ, Canh Thân tham gia nhóm nhạc Đồng Vọng do Hoàng Quý sáng lập . Ca khúc đầu tay của Lê Thương có thể là bản Tiếng đàn âm Thầm viết năm 1934.
Năm 1941, Lê Thương rời Hải Phòng vào Bến Tre, sau đó lên Sài Gòn và tham gia trong dòng sinh hoạt văn nghệ cùng anh em văn nghệ sĩ. Qua Hồi Ký của Phạm Duy: "Trong số những bạn đồng nghiệp, tôi yêu nhất nhạc sĩ Lê Thương. Anh rời Bến Tren lên Sài Gòn làm nghề thầy giáo... Lê Thương làm thơ, làm nhạc rất bay bướm nhưng anh có cuộc sống rất giản dị... Vào những năm đầu của cuộc chiến Nam Bộ, cũng như hầu hết những người trai của thời đại, Lệ Thương có những đóng góp tich cực vào cuộc đấu tranh chống xâm lăng, giành Tự Do, Độc Lập của toàn thể nhân dân... Thì ra Lê Thương cũng đi vào khàng chiến để tạo những huyền thoại về người mẹ Việt Nam... Lê Thương vào thành rất sớm. Vào năm 48, anh soạn bài Hòa Bình 48... Vào thời đó, nằm trên trục tuyên truyền của phe tả, chim bồ câu được chọn làm biểu tượng cho hòa bình... nhưng anh Lê Thương của chúng ta cho rằng con chim đó dang bị đau nặng... Bài Hòa Bình 48 là loại nhạc châm biếm chính trị (satire politique) do Lê Thương dẫn đầu... Lê Thương còn soạn thêm những bài ca châm biếm như Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn, Đốt Hay Không Đốt... ... Lê Thương cũng là người chuyên soạn nhạc cho thiếu nhi, thiếu niên qua những bài Thằng Cuội, Tuổi Thơ... Bài Bà Tư Bán Hàng và bài Học Sinh Hành Khúc phổ biến đến độ có những câu nhại... tôi vẫn quan niệm bài hát nào có lời ca nhại là bài hát thành công nhất. Tôi cũng cho rằng trong làng tân nhạc, Lê Thương là người trí thức nhất.
Lê Thương ôm một mối tình câm, lãng mạn như bài thơ ”Lòng ta ôm một mối tình/Tình trong giây phút thành tình thiên thu…”. Nghe nói, người trong mộng của ông sau này trở thành phu nhân một nhạc sĩ cũng rất nổi tiếng khác: Nguyễn Thiện Tơ - người lưu danh hậu thế với ”Giáo đường im bóng” (bài hát này được tác giả viết lúc mới 17 tuổi, hình như đó là một kỷ lục của Tân nhạc). Tình cảm này đã giúp Lê Thương viết bài “Nàng Hà Tiên”. Ông mượn chuyện khác để nói chuyện lòng mình. Đây là bài hát nhiều người cho là dự báo cho Hòn Vọng Phu - kiệt tác của ông sau này.
“Có thể ví Lê Thương như những đỉnh cao nhất của dẫy Trường Sơn âm nhạc Việt Nam"...ca sĩ Duy Trác bày tỏ sự ngưỡng mộ với người nhạc sĩ được quen biết sau bốn thập niên.
Ngôn ngữ âm nhạc của Lê Thương thật đa dạng, trong đó đặc biệt rất nhiều bài dùng thang âm ngũ cung, thể hiện rõ nhất nghệ thuật sử dụng thang ngũ cung có thể kể đến ba bài Hòn vọng phu. Ba bản nhạc này được xem như một trường ca, được ông viết trong khoảng thời gian từ 1943 đến 1947.
Hòn vọng phu được Lê Thương sáng tạo dựa vào câu chuyện dân gian cùng tên. Đó là một câu chuyện tình ngang trái. Trong thời ly loạn, một chàng trai đã kết duyên cùng một cô gái trẻ, họ sinh con và sống trong yêu thương hạnh phúc. Một ngày nọ, chàng trai tình cờ nhận ra vết sẹo trên đầu người vợ trẻ, và qua tâm sự chàng biết chắc rằng người vợ trẻ đó chính là em gái mình. Không dám nói cho vợ biết, ân hận và đau khổ, chàng lặng lẽ ra đi. Người vợ trẻ thương chồng ôm con đợi chờ và hóa đá. Trong Hòn vọng phu của Lê Thương, người đàn bà cũng chờ chồng và hóa đá, nhưng khác hơn là mỏi mòn mong đợi người chồng trở về từ chiến trận.
Theo nhạc sĩ Lê Thương, việc sáng tác ba bản Hòn Vọng Phu xuất phát từ những bước luân lạc kéo dài tại xứ dừa Bến Tre. những rung cảm êm đềm lẫn ghê rợn, tuyệt vọng đã giúp cho chàng nhạc sĩ giang hồ gốc Thăng Long chắp nối dần các tình tiết thành một "truyện ca". Và từ năm 1945 đến đầu 1948, ba bản Hòn Vọng Phu lần lượt được tái bản tại Sài Gòn. Hòn Vọng Phu I mở đầu với hình ảnh chiến chinh, "là một bức tranh phác họa vài nét tiêu sơ theo điệu quân hành. Thực hiện nó bằng cảm xúc mãnh liệt cộng với trí tưởng tượng mông lung, diệu vợi... Viết Hòn Vọng Phu I lúc đang sống bên bờ kinh đào Chạc Sậy nối liền sông Đại với sông Bến Tre" (Lê Thương).
Về mặt tình cảm, là nghệ sĩ, Lê Thương cũng phong lưu đa tình nhưng kín đáo, vì vậy không bị tai tiếng. Người tình đầu tiên sống với ông là cô đầu hát ả đảo nổi tiếng ở Hà Nội, sống với nhau nhưng không thành hôn. Người bạn đời trăm năm với ông, gốc Hưng Yên, ở Pháp về gặp nhau tại Sài Gòn, sống với nhau được 3 người con mới làm giấy hôn thú, tiếp tục hành trình, có tất cả 9 người con. Người bạn đời của nhạc sĩ "là người bình dân, mộc mạc, không bao giờ nhảy sổ vào công việc của chồng, suốt đời lẳng lặng trông nom săn sóc chồng con" (Phạm Duy). Tuy nhiên, mối tình của Lê Thương với vũ sư Năm Ngọc ở chợ Vườn Chuối thời Lê Thương làm việc ở Trung tâm Học Liệu, tuy kín đáo nhưng bị lọt vào mắt mấy tay cầm bút.
Năm 1996, ông qua đời, nhưng ba "đỉnh núi" của trường ca Hòn vọng phu có lẽ sẽ mãi trường tồn, với âm thanh khoan nhặt, bềnh bồng như hư như thực, và hình tượng người đàn bà hóa đá ôm con chờ chồng sẽ mãi ở lại cùng năm tháng.
Minh Xuân- Vietinfo.eu sưu tầm và biên tập

